Lịch sử phát triển công tác đo vẽ bản đồ địa
chất
Công tác
vẽ BĐĐC ở Việt Nam gắn liền với lịch sự nghiên cứu địa chất ở nước ta, công
việc này có mối liên hệ chặt chẽ với các giai đoạn giải phóng dân tộc và xây
dựng đất nước. Vì vậy chúng ta có thể chia lịch sử công tác vẽ BĐĐC thành ba
giai đoạn: giai đoạn trước cách mạng tháng 8 năm 1945; giai đoạn từ sau cách
mạng tháng 8 - 1945 đến 1975 và giai đoạn từ 1975 đến nay.
- Giai đoạn thứ nhất (trước 1945)
Từ khi
thực dân Pháp đô hộ ba nước Đông Dương, họ đã tiến hành công tác khai thác các
khoáng sản có ích ở Đông Dương nói chung và ở Việt Nam nói riêng.
Bản đồ địa
chất Đông Dương đầu tiên tỉ lệ 1: 4.000.000 do E. Fuch thành lập năm 1892 thực
chất là một sơ đồ kiến trúc trên đó chỉ biểu diễn đúng đường phương chung của
các hệ tầng ở Trung Bộ.
Mặc dù Sở
địa chất Đông Dương đã thành lập từ năm 1895, nhưng trong mười năm đầu các công
tác địa chất của người Pháp vẫn chỉ là việc nghiên cứu bằng các lộ trình nhằm
khai thác gấp khoáng sản chứ không tiến hành nghiên cứu một cách có kế hoạch
cấu trúc địa chất lãnh thổ. Trong thời kỳ này Galland, Mollard,v.v… đã lập nên
các bản đồ, sơ đồ địa chất phần lớn khu vực Bắc Bộ tỉ lệ 1:100.000 và 1:200.000
rất sơ lược. Năm 1907, H. Lantenois đã thành lập sơ đồ địa chất phần lớn Bắc Bộ
tỉ lệ 1:1.500.000 còn Zeil và H. Counillon lập các bản đồ sơ lược một vài phần
của lãnh thổ này như các vùng Bình Gia và Lạng Sơn, tỉ lệ 1:500.000. Những công
trình này đã nhắc đến kiến trúc hình cung phía bắc Bắc Bộ.
Bước vào
thời kỳ từ 1910 - 1925 phải nói tới hoạt động của J. Deprat. Trong suốt mười
năm, ông đã tiến hành nghiên cứu thực địa một mình ở Đông Dương và Vân Nam -
Trung Quốc. Năm 1914, J. Deprat đã thành lập bản đồ địa chất hạ lưu sông Đà.
Năm 1915 ông đã công bố tác phẩm Nghiên
cứu địa chất ở vùng phía bắc thượng Bắc Kỳ. Bản đồ các tờ Pa Kha, Hà Giang,
Malipo và Yên Minh tỉ lệ 1:100.000 đã được thành lập với cùng một chú giải. Năm
1919 ông đã lập nên các bản đồ địa chất trên nhiều vùng khác nhau. Từ sau năm
1919, việc nghiên cứu địa chất khu vực của J. Deprat được Ch. Jacob, R.
Bourret, E. Patle, L. Dussault, J. Fromaget tiếp tục.
Từ năm
1919, R. Bourret bắt đầu thành lập hàng loạt các bản đồ tỉ lệ 1:100.000 của các
tờ Cao Bằng, Bạo Lạc, Hạ Lang, Thất Khê và năm 1922, ông đã công bố bản đồ địa
chất Đông Bắc Bắc Kỳ tỉ lệ 1:300.000. Đó là sự tổng hợp các công trình nghiên
cứu của chính R. Bourret và sự giải thích cục bộ các công trình của J. Deprat
và L. Dussault. Bản đồ của Bourret đã phản ánh đúng hơn cấu trúc địa chất đông
bắc Bắc Bộ so với các bản đồ trước đó. Năm 1921
Ch. Jacob đã thành lập tờ bản đồ địa chất tỉ lệ 1:250.000 bao gồm hạ lưu
sông Đà. Tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa và bắc Nghệ An, các bản đồ này đã phản ánh
khá đúng đắn địa chất khu vực.
Năm 1925
F. Blondel được bổ nhiệm làm giám đốc sở Địa chất Đông Dương, công tác nghiên
cứu địa chất nói chung và lập bản đồ địa chất nói riêng tiến thêm một bước mới.
Năm 1927, J. Fromaget đã thành lập bản đồ địa chất tỉ lệ 1:400.000 và là lần
đầu tiên mô tả có hệ thống địa chất phía bắc Trung Bộ và vùng kế cận Lào. Năm
1929, L. Dussault thể hiện ranh giới địa chất và địa tầng chính xác hơn. Cũng
trong thời kỳ này, sở Địa chất Đông Dương đã hướng vào thành lập hàng loạt các
bản đồ địa chất tỉ lệ 1:500.000. Trong 06 tờ bao gồm lãnh thổ Việt Nam đã xuất
bản 04 tờ: Vinh (1928), Cao Bằng (1930), Hà Nội (1937), Mông Tự (1939) và chuẩn
bị cho in 02 tờ Luangprabang và Vientiane.
Đặc biệt
lưu ý vào những năm này là sự ra đời hàng loạt các tác phẩm tổng quát của J.
Fromaget (1921, 1931, 1935, 1936, 1937) về kiến trúc địa chất và lịch sử phát
triển kiến tạo của Đông Dương. Năm 1952 đã xuất bản tờ bản đồ địa chất Đông
Dương tỉ lệ 1:2.000.000 do Fromaget chủ biên. Đối với J. Fromaget, cần ghi nhận
công lao của ông trong việc đề xuất và khẳng định chu kỳ kiến tạo Indosini có
tuổi trước Trias thượng trên cơ sở tài liệu cổ sinh địa tầng và cấu tạo.
Ngày nay
bằng phương pháp xác định tuổi biến dạng (phương pháp Ar39/Ar40).
H. Maluski đã xác định tuổi của pha biến dạng quan trọng này có tuổi trung bình
245 triệu năm. Khẳng định một lần nữa và định lượng hóa chu kỳ kiến tạo này.
Sau năm
1939 sự nỗ lực của Sở Địa chất Đông Dương căn bản hướng vào việc thăm dò các mỏ
khoáng sản có ích.
- Giai đoạn thứ hai (từ 1945 - 1975)
Sau khi
miền Bắc được hoàn toàn giải phóng năm 1954. Cục địa chất được thành lập và đến
năm 1961 đã chuyển thành Tổng cục địa chất. Công tác nghiên cứu địa chất có hệ
thống từ 1960 và chuyên ngành Bản đồ địa chất ra đời và phát triển nhanh chóng.
Năm 1959,
đoàn 20 được thành lập và được giao nhiệm vụ tiến hành thành lập bản đồ địa
chất miền Bắc Việt Nam tỉ lệ 1:500.000 với sự chỉ đạo khoa học của nhóm chuyên
gia Liên xô (cũ) do A. E. Dovjikov chủ biên và tờ bản đồ này hoàn thành năm
1965. Cần khẳng định vai trò quan trọng của việc thành lập bản đồ này vì thông
qua công tác lập lên một bản đồ đội ngũ cán bộ địa chất Việt Nam được đào tạo
và chính họ đã trở thành hạt nhân quan trọng cho công tác nghiên cứu và lập bản
đồ địa chất với tỉ lệ khác nhau trên khắp mọi miền đất nước. Chúng ta ghi nhận
công lao to lớn của các nhà khoa học địa chất Liên Xô trước đây trong việc đào
tạo cho Việt Nam đội ngũ các nhà địa chất đầu tiên. Đây là công trình khoa học
đầu tiên của chuyên ngành Bản đồ địa chất mà ý nghĩa khoa học và thực tiễn của
nó đã được đánh giá rất cao. Qua công trình này, các nhà địa chất hai nước đã
phát hiện mới một số vùng quặng thiếc quan trọng và đã trở thành các mỏ công
nghiệp như mỏ Quỳ Hợp, Sơn Dương. Đồng thời bản đồ này đã cung cấp hàng loạt
những tiền đề và dấu hiệu tìm kiếm các loại khoáng sản và các diện tích có
triển vọng khoáng sản phục vụ cho các dự án và công trình về sau.
Sau công
trình này, mặc dù đất nước vẫn còn chiến tranh ác liệt song chuyên ngành Bản đồ
địa chất vẫn tiếp tục triển khai công tác
đo vẽ bản đồ địa chất tỉ lệ 1:200.000 và 1:50.000 trên toàn miền Bắc.
Đến năm 1975, diện tích đo vẽ bản đồ địa chất Việt Nam tỉ lệ 1:200.000 đã phủ
kín gần hết diện tích lãnh thổ miền Bắc. Các nhà địa chất Việt Nam đã tiến hành
hiệu đính, lắp ghép, biên tập và cho xuất bản loạt tờ Tây Bắc tỉ lệ 1:200.000.
Đặc biệt việc xuất bản tuyển tập Những vấn đề địa chất Tây Bắc kèm theo bản đồ
địa chất Tây Bắc tỉ lệ 1:50.000 chứng tỏ đội ngũ các nhà địa chất nước ta đã
trưởng thành vượt bậc. Công tác đo vẽ bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản
1:50.000 cũng đã được tiến hành trên những khu vực có triển vọng và đã thu được
những kết quả bước đầu đầy khích lệ. Nhiều điểm khoáng sản có triển vọng như
vàng ,asbest, thiếc, sắt, mangan, v.v… đã được phát hiện mới.
- Giai đoạn thứ ba (từ 1975 đến nay)
Ngay sau
khi giải phóng miền Nam, Cục Bản đồ địa chất đã có kế hoạch triển khai ngay
việc thành lập bản đồ địa chất tỉ lệ 1:500.000 miền Nam. Đoàn 500 được thành
lập với nhiệm vụ đo vẽ bản đồ địa chất miền Nam tỉ lệ 1:50.000. Bản đồ này hoàn
toàn do đội ngũ các nhà địa chất Việt Nam đảm nhận.
Đoàn 500
đã hợp tác một cách có hiệu quả với các cán bộ giảng dạy thuộc trường đại học
Mỏ - Địa chất Hà Nội, Đại học Tổng hợp Hà Nội và với cán bộ khoa học kỹ thuật
một số đơn vị trong và ngoài ngành địa chất. Kết quả thu được từ công trình này
rất đáng tự hào. Trên 500 điểm quặng đã được nghiên cứu có hệ thống trong đó có
300 điểm mới phát hiện bao gồm các vùng quặng bauxit-laterit, pyrit, đa kim,
thiếc, vàng, sét, bentonit, kaolin, đá vôi, than bùn, quặng phóng xạ,v.v… Một
số đã được thăm dò, khai thác sử dụng. Các tài liệu thu thập được của đoàn 500
trong những năm 1976 - 1979 là tiền đề hết sức quan trọng cho việc định hướng
công tác đo vẽ bản đồ địa chất tỉ lệ trung bình và lớn, đồng thời là cơ sở
không thể thiếu cho việc đo vẽ các loại bản đồ khác như bản đồ khoáng sản, địa
mạo, thủy văn tỉ lệ 1:50.000 cả nước.
Thành tích
đáng ghi nhận của chuyên ngành Bản đồ địa chất trong những năm 1979 - 1982 là
hoàn thành bộ Bản đồ địa chất, khoáng sản, địa mạo, trọng sa bùn đáy Việt Nam
và Bản đồ vỏ phong hóa Nam Việt Nam tỉ lệ 1:500.000. Lần đầu tiên Bản đồ địa
chất Việt Nam tỉ lệ 1:500.000 được công bố. Đây là một trong những công trình
khoa học có tính tổng hợp cao do tập thể các nhà địa chất chuyên ngành Bản đồ
địa chất thành lập. Bản đồ này đã được tặng Huy chương vàng tại hội trợ triển
lãm kinh tế - kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất.
Với mục
đích đẩy nhanh tốc độ, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đo vẽ bản đồ
địa chất tỉ lệ trung bình, Liên đoàn Bản đồ đã triển khai đo vẽ theo phương
pháp nhóm tờ trên phần lãnh thổ phía Nam như nhóm tờ Huế - Quảng Ngãi, Bến Khế
- Đồng Nai, Kon Tum, đồng bằng song Cửu Long. Cùng với các công trình đo vẽ bản
đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản tỉ lệ 1:50.000 nhóm tờ Phan Rang (hợp tác
với Tiệp Khắc), các nhóm tờ Đông Phủ Thông - Ngân Sơn, Tam kỳ - Hiệp Đức, Hòa
Bình - Suốt Rút (hợp tác với Nga) và hiện đang hợp tác với Nhật Bản nghiên cứu
địa chất và tìm kiếm khoáng sản thuộc nhóm tờ Vạn Yên. Cũng trong thời kỳ này,
các bản đồ địa chất và khoáng sản tỉ lệ 1:200.000 loạt tờ Đông Bắc và Trường
Sơn hiệu đính lần thứ nhất được hoàn thành.
Giữa thập
kỷ 80, Liên đoàn Bản đồ địa chất lại được giao nhiệm vụ đo vẽ bản đồ địa chất
và tìm kiếm khoáng sản tỉ lệ 1:50.000 trên phần lãnh thổ phía Bắc (từ đèo Hải
Vân trở ra). Các nhóm tờ Cẩm Thủy - Bá Thước, Quan Hóa - Vụ Bản, Hà Đông - Hòa
Bình, Hòa Bình - Suối Rút, Chợ Đồn - Chiêm Hóa, Na Hang - Ba Bể, Bắc Quang -
Vĩnh Tuy, thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng, Nam Đồng và Mường Tè tỉ lệ
1:50.000 lần lượt được thi công và hoàn thành tốt đẹp.
Nhiệm vụ
quan trọng và cấp bách hiện nay của chuyên ngành Bản đồ địa chất là không ngừng
nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đo vẽ bản đồ địa chất - tìm kiếm
khoáng sản tỉ lệ 1:50.000. Muốn làm tốt điều này cần thiết phải tiến hành song
song công tác đào tạo và nâng cao trình độ cho các nhà địa chất chuyên ngành
bản đồ địa chất, đồng thời ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới và hiện đại vào đo
vẽ bản đồ địa chất trên cơ sở của học thuyết kiến tạo mảng.

0 nhận xét:
Đăng nhận xét