1. Thời kỳ tạo khoáng
Thời kỳ tạo khoáng dùng để chỉ khoảng thời gian tạo quặng khá dài, thuộc vào một kiểu nguồn gốc nhất định ( magma, pegmatit, skarn, nhiệt dịch,…) và được khống chế bởi các điều kiện địa chất nhất định.
Ví dụ: Thời kỳ tạo khoáng vàng nhiệt dịch có giai đoạn III là giai đoạn phong hóa ( ở hình ảnh trên cho thấy chalcopyrit bị covelin hóa) (Hình ảnh mang tính chất minh họa).
2. Giai đoạn tạo khoáng
Giai đoạn tạo khoáng là một phần của thời kỳ tạo khoáng, được đặc trưng bởi các điều kiện hóa lý nhất định và ứng với mỗi giai đoạn tạo khoáng có thể hình thành nên một hoặc vài THCSKV.
Giai đoạn tạo khoáng
được phân tích dựa trên các dấu hiệu và chỉ tiêu sau:
- Các biến dạng kiến tạo trong quặng.
- Sự xuyên cắt nhau của các THCSKV.
- Sự khác nhau của các kiểu biến đổi nhiệt dịch.
- Sự khác nhau và sự thay đổi có quy luật của các tổ hợp khoáng vật.
- Tổ hợp đặc trưng của các nguyên tố chính, các nguyên tố hóa học phân tán đi kèm.
- Các biến dạng kiến tạo trong quặng.
- Sự xuyên cắt nhau của các THCSKV.
- Sự khác nhau của các kiểu biến đổi nhiệt dịch.
- Sự khác nhau và sự thay đổi có quy luật của các tổ hợp khoáng vật.
- Tổ hợp đặc trưng của các nguyên tố chính, các nguyên tố hóa học phân tán đi kèm.

0 nhận xét:
Đăng nhận xét