Các kiểu mỏ khoáng và kiểu mỏ công nghiệp khoáng sản Thiếc ở Việt Nam

Leave a Comment

1. Đặc điểm địa chất các mỏ thiếc

Khoáng sàng thiếc phát triển ở vùng uốn nếp địa vồng, các địa khối trung tâm và cả trong các đới hoạt hóa của khiên và của nền. Những công trình nghiên cứu cho rằng vị trí các đai khoáng hóa thiếc trùng với các nơi dát mỏng của vỏ Trái Đất với bề dày các trầm tích lớn, nghĩa là phân bố ở những nơi hoạt động mạnh của vỏ Trái Đất, gồm:
             - Đới thành tạo võng lâu dài và được lấp đầy bởi các đá phiến – cát kết
             - Những đai uốn nếp quanh các địa khối trung tâm (vi lục địa)
             - Những nơi nứt tách sâu và những nơi giao nhau của các đứt gãy phá hủy sâu trên miền nền mà nơi đó xuất hiện các thành tạo xâm nhập.
           
Cấu trúc tinh thể của Cassiterit

 Các thể granit chứa thiếc và những vùng mỏ quặng thiếc được khống chế bởi các yếu tố kiến trúc như sau:
              - Vùng bản lề của các cấu trúc nếp uốn vồng và những nơi uốn cong của cấu trúc nếp uốn bị chia cắt nhiều đứt gãy phá hủy có tuổi khác nhau
              - Đứt gãy sâu, đặc biệt nơi giao nhau giữa chúng và nếp uốn.
            Đôi khi trong những vùng rộng lớn quặng hóa thiếc phân bố ở ven rìa các thể xâm nhập, và phổ biến là ở vòm các khối xâm nhập. Ngoài ra thành phần thạch học của các đá vây quanh cũng đóng vai trò quan trọng – nghĩa là quặng hóa (thể quặng) phân bố ở các tầng trầm tích xen kẽ của đá cát kết và phiến, tại những nơi với các lớp đá dòn, dễ vỡ như cát kết, quartzit, plagiogneiss amphibol.
            Về mặt phân bố, mỏ thạch anh – cassiterit được thành tạo theo hai nhóm chính:
             - Trên các thân xâm nhập, phân bố trong các tầng đá phiến – cát kết vây quanh
             - Trong các thể xâm nhập granitoit (nơi phần lồi, phần nhô) với khoảng cách quặng hóa từ 1,5 – 2km
            Phụ thuộc vào hình dạng các thể xâm nhập, sự có mặt các đứt gãy phá hủy trước quặng mà các thể mạch quặng có thể có nhiều dạng khác nhau: hình vòng, kéo dài hoặc là mạng mạch quặng phức tạp. Các yếu tố kiến tạo địa phương khống chế sự phân bố        quặng hóa:
             - Quặng hóa dạng mạng mạch:
·    Tại những nơi tiếp giáp của các đứt gãy có nhiều phương khác nhau;
·    Tại ven rìa các khối xâm nhập nơi mà phổ biến nhiều khe nứt được thành tạo trong các quá trình kết tinh;
·    Trong các vùng họng núi lửa;
 - Các thân quặng trong các khe nứt vỡ vụn;
             - Các thân quặng trong các hệ thống khe nứt liên hợp và các nứt tách;

            Tuy nhiên các cấu trúc thuận lợi hơn có giá trị công nghiệp là kiểu quặng hóa mạng mạch và một phần liên quan với các thành tạo núi lửa. Các mỏ phân bố trong các thành tạo núi lửa đặc trưng là thường có kích thước lớn và lịch sử phát triển phức tạp, bắt đầu từ lúc xâm nhập các đai mạch có nhiều tuổi, thành phần khoáng vật các mạch (từ giai đoạn nhiệt độ cao đến nhiệt độ thấp) rất khác nhau và cuối cùng là các dịch chuyển kiến tạo sau quặng.

2. Các kiểu mỏ khoáng và kiểu mỏ công nghiệp khoáng sản thiếc ở Việt Nam

Ở Việt Nam, các vùng khoáng hóa thiếc có nhiều triển vọng nhất là Pia Oac (Cao Bằng), Tam Đảo, Quỳ Hợp (Nghệ An), Bãi Thượng, Sông Chu, Bù Me (Thanh Hóa), Trà Mi, Đại Lộc (Quảng Nam), Bà Nà (Đà Nẵng), Xuân Thu – Minh Long (Quảng Ngãi), Đạ Chais, Tây Sơn, Phú Sơn (Lâm Đồng), Hòn Bồ (Đà Lạt). Khoáng hóa thiếc thường đi kèm với khoáng hóa wolfram.

2.1. Kiểu mỏ thạch anh – cassiterit

Ø  Vùng Pia Oac
Ở nước ta điển hình cho loại mỏ thạch anh – cassiterit là mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng). Vùng mỏ phát triển ở phần nhân nếp lồi ngắn Tống Tinh và ở phía Bắc vòng cung Cốc Xô. Phía bắc sườn núi Pia Oac là mỏ W – Sn gốc, chia ra 2 khu: Saint Alexandra và Camille. Ở chân sườn phía bắc là mỏ sa khoáng thiếc Tĩnh Túc và Nậm Kép. Ở sườn phía nam núi Pia Oac là mỏ gốc W – Sn Lũng Mười. Xa hơn nữa về phía nam và tây nam là mỏ Tà Sỏong gồm 3 khu: Tà Soỏng, Lê A và Bản Ổ. Ở sườn phía tây là mỏ Bình Đường gồm 2 khu: Thái Lạc và Bình Đường.
            Pia Oac nằm cách Cao Bằng khoảng 42km về phía Tây và cách Hà Nội 338km về phía Bắc. Tham gia vào cấu trúc địa chất của vùng gồm các thành tạo trầm tích: đá cát kết biến chất, đá macnơ, đá vôi và đá phiến tuổi Devon; đá vôi, sét bột kết tuổi Cacbon – Permi và các thành tạo phun trào rhyolit Trias cũng như các trầm tích bở rời tuổi Đệ tứ như cát, sét, cuội phân bố dọc theo các thung lũng sông, bãi bồi và phần lớn nơi này là các mỏ sa khoáng thiếc (như Tĩnh Túc) đã khai thác nhiều năm nay. Vùng Pia Oac theo đánh giá trữ lượng các mỏ sa khoáng aluvi có thể khai thác là 23000 tấn SnO2 (tạp chí Công Nghiệp nặng số 5, 1991)
            Khoáng hóa thiếc vùng Pia Oac liên quan với các thành tạo xâm nhập granitoit phức hệ Pia Oac tuổi Kreta (85 – 90 triệu năm). Granitoit bị biến đổi mạnh mẽ như felspat hóa và greizen hóa. Trọng phạm vi và đới ngoại tiếp xúc của các thành tạo xâm nhập bắt gặp các mạch thạch anh cassiterit, wolframit là chủ yếu. Ngoài ra với hàm lượng thấp còn gặp các sulfur pyrit, galenit, sphalerit, molipdenit, tourmalin gặp rải rác. Trong các đới cà nát của granitoit đã phát hiện các màng mỏng autunit và torbernit (khoáng vật của uran).
Ø  Vùng Sông Chu, Bù Me, Bãi Thượng (Thanh Hóa)
            Tại các vùng này đã phát hiện khoáng hóa thiếc, wolfram, song chưa tiến hành tìm kiếm, đánh giá chi tiết. Granitoit liên quan với khoáng hóa thiếc, wolfram và niobi-tantal của vùng bị biến đổi sau magma rất mạnh mẽ và thể hiện trên toàn bộ của khối magma xâm nhập: đó là quá trình albit hóa và greizen hóa. Tại khối granit Bù Me do quá trình albit hóa đã hình thành các mạch albitit (gồm albit và ít thạch anh, orthocla và ít khoáng vật phụ zircon, niobat – tantalat (?)). Chúng bị các mạch greizen (thạch anh và muscovit) và thạch anh có topaz xuyên cắt  (Huỳnh Trung, Nguyễn Văn Sĩ, 1973). Granit bị greizen hóa mạnh (muscovit hóa, thạch anh hóa) chủ yếu ở phần vòm của khối.
            Quá trình biến đổi sau magma của granitoit khối Sông Chu thể hiện mạnh mẽ nhất là quá trình thạch anh hóa và đã thành tạo những ổ, thấu kính gồm nhiều ổ thạch anh màu trắng trong suốt khá đẹp, rất có giá trị trong công nghiệp và chế tác đồ trang sức.

2.2. Kiểu mỏ cassiterit – sulfur

Ø  Vùng Tam Đảo
            Nằm cách Hà Nội 130km về phía Bắc. Tham gia vào cấu trúc địa chất vùng Tam Đảo (Sơn Dương, Khuôn Phây, Thiện Kế, Núi Pháo, Đá Liền…) gồm có các thành tạo trầm tích biến chất tuổi Paleozoi dưới: đá vôi, phiến sericit; tuổi Ordovic – Silua: đá phiến và cát kết; tuổi Devon: cát kết và phiến sét; tuổi Trias giữa: trầm tích vụn, đá phun trào rhyolit; tuổi Trias muộn: trầm tích than, sét kết; tuổi Jura: trầm tích màu đỏ; tuổi Đệ tứ: aluvi. Các thành tạo xâm nhập granitoit của vùng được xếp vào phức hệ Núi Điệng tuổi Trias trung và đi kèm với các thành tạo phun trào axit của vùng. Granit khối Thiện Kế là granit hai mica (Lê Thạc Xnh, Phạm Tuấn Thịnh, 1990). Có lẽ chúng bị biến đổi hậu magma – greizen hóa, nhưng ở mức thấp.
            Kiểu khoáng hóa thiếc, wolfram vùng Tam Đảo theo các tài liệu mô tả có thể liệt vào kiểu mỏ cassiterit – sulfur, thuộc thành hệ cassiterit – tourmalin – sulfur. Tổ hợp cộng sinh các khoáng vật trong mạch được chia thành 3 loại:
- Thạch anh – cassiterit – wolframit
- Thạch anh – cassiterit – sulfur
- Thạch anh – tourmalin – cassiterit – sulfur
Khoáng vật Cassiterit
Khoáng vật Cassiterit
            Tại vùng Đá Liền phát hiện nhiều thể skarn trong khối granit, trong đó các nguyên tố chủ yếu là wonfram, bismut và beril. Trữ lượng quặng gốc vùng Tam Đảo là 15.000 tấn Sn, 45.000 tấn WO3, 17.000 tấn Be và 30.000 tấn Bi (Tạp chí Công Nghiệp nặng, 5-1991).
Mỏ thiếc Sơn Dương gồm 4 khu chính: Trúc Khe, Khuôn Phầy, Ngòi Lẹm, Ngòi Chò với diện tích chúng khoảng 15 km. Khoáng hóa thiếc biểu hiện trong đá xâm nhập, đá trầm tích biến mất và cả trong rhyolit. Thân quặng có dạng mạch, stock, kéo dài không liên tục, chiều dài thân quặng có khi đạt tới 200 – 300 m. Đá vây quanh quặng thường bị tourmalin, clorit hóa, sericit hóa, silic hóa. Quặng gồm thạch anh, tourmalin, cassiterit, pyrit, chancopyrit, arsenopyrit. Ngoài ra còn nhiều khoáng vật chứa Bi. Quặng thiếc gốc là nguồn cung cấp vật liệu để tạo sa khoáng đối tượng khai thác công nghiệp hiện nay. Về nguồn gốc mỏ thiếc Sơn Dương còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau:
+ Ý kiến thứ nhất cho là quặng hóa thiếc Sơn Dương liên quan với granit ở sâu thuộc phức hệ Pia Oac lộ ra Thiện Kế.
+Ý kiến thứ hai cho là quặng hóa thiếc Sơn Dương liên quan với granit ở Trúc Khê, Núi Điệng và phun trào rhyolit tuổi Trias.
Ngoài ra có ý kiến còn cho rằng khoáng hóa thiếc Sơn Dương xảy ra trong hai        chu kỳ: chu kỳ 1 liên quan với granit Trúc Khê và á phun trào Tam Đảo, chu kỳ 2 liên quan với granit 2 mica Thiện Kế thuộc phức hệ Pia Oac.
Ø  Vùng Minh Long (khối Xuân Thu)
            Quặng hóa wolfram liên quan với granitoit khối Xuân Thu (phức hệ Bà Nà) được Thân Đức Duyện và nnk phát hiện trong công trình đo vẽ lập BĐĐC tỷ lệ 1/50000 thuộc đề án Quảng Ngãi (2000). Granitoit của khối bị greizen hóa rất mạnh, đặc biệt ở ría tây nam của khối. Tại đây đã gặp các mạch greizen (thạch anh, muscovit và thạch anh xuyên cắt các đá mạch aplit (?) (Huỳnh Trung, Lê Đức Phúc, 2001). Ngoài ra còn gặp các thành tạo thạch anh – felspat (orthocla) và thạch anh muscovit có adaluzit, corun ở dạng tảng lăn trong phạm vi của khối. Ở tây bắc vùng trong phạm vi nội ngoại tiếp xúc đã phát hiện các mạch quặng wolframit có cassiterit và sulfur (chalcopyrit, arsenopyrit, galenit, sphalerit, molipdenit…). Các khoáng vật sulfur phân bố không đồng đều trong các thân quặng còn có các nguyên tố Bi, Mo, Ag với hàm lượng tương đối thấp.
Ø   Vùng Bà Nà, Trà Mi, Đại Lộc (Đồng Nghệ)
            Khoáng hóa thiếc, wolfram liên quan với granitoit bị biến đổi các khối Bà Nà, Trà Mi, được xếp vào phức hệ Bản Chiềng (Huỳnh Trung, 1979). Tại các vùng nêu trên đã phát hiện các mạch greizen (thạch anh, muscovit) có cassiterit, wolframit, tourmalin, topaz và rất ít pyrit (Cát Nguyên Hùng, 1999 – Nguyễn Tường Tri, Huỳnh Trung, 1995). Theo Cát Nguyên Hùng (1999) giai đoạn greizen được thành tạo trong khoảng nhiệt độ 300 – 5400C. Ở giai đoạn nhiệt độ 200 – 3300C thành tạo các mạch với tổ hợp khoáng vật chủ yếu thạch anh, cassiterit, pyrit, arsenopyrit, tourmalin, vàng. Ngoài ra còn có wolframit, muscovit, ilmenit với hàm lượng thấp. Giai đoạn thạch anh – sulfur được thành tạo ở nhiệt độ 160 – 2000C với tổ hợp khoáng vật là thạch anh, pyrit, pyrotin, chalcopyrit. Ở giai đoạn này ở vùng Thúy Loan trong mạch còn gặp vàng và bismutin ở nhiệt độ thành tạo 200 – 3500C.
            Như vậy tại vùng Bà Nà, Trà Mi, Đồng Nghệ (Thuý Loan) quặng cassiterit, wolframit được thành tạo ở giai đoạn greizen và thạch anh – sulfur. Còn giai đoạn nhiệt độ thấp từ 160 – 2000C (350) thì chủ yếu là thạch anh sulfur không có cassiterit, wolframit.
            Granitoit của phức hệ Bản Chiềng (Bà Nà) tại các vùng Bà Nà, Trà Mi, Đồng Nghệ phổ biến quá trình trao đổi biến chất hậu magma với các giai đoạn: kiềm sớm, rửa lũa axit, kiềm muộn và lắng đọng (Cocjinski, 1956). Giai đoạn kiềm sớm thể hiện không đồng đều song phát triển trên toàn bộ các khối và có thể ở các phần sâu của các khối magma. Các khoáng vật được thành tạo ở giai đoạn này là microlin (cấu tạo song tinh mạng lưới thanh nét), plagiocla II (albit – oligocla), zircon. Giai đoạn rửa lũa axit thành tạo tổ hợp khoáng vật thạch anh, muscovit, fluorit, topaz, tourmalin, cassiterit, wolframit. Giai đoạn kiềm muộn thành tạo khoáng vật Plagiocla III (albit), microlin III và ít biotit II, grana. Chúng là những khoáng vật phân bố rải rác thay thế hoặc tiêm nhập theo khe nứt các khoáng vật thành tạo trước. Giai đoạn lắng đọng thành tạo tập hợp khoáng vật thạch anh – sulfur có cassiterit, wolframit hoặc tập hợp thạch anh – sulfur.
Ø  Vùng Quỳ Hợp, Phú Lợi, Bản Chiềng
            Nằm ở phần phía Tây tỉnh Nghệ An và cách Hà Nội khoảng 250 km về phía Nam. Các địa phương có khoáng hóa thiếc có giá trị công nghiệp là vùng Quỳ Hợp, Bản Chiềng, Phú Lợi và Bãi Thượng. Cấu trúc địa chất của vùng là một phần của đới Phú Hoạt phổ biến các đá biến chất trước Cambri và Paleozoi hạ cũng như các trầm tích bở rời aluvi. Các thành tạo magma xâm nhập liên quan với khoáng hóa thiếc, (wolfram) là granitoit phức hệ Bản Chiềng (Sông Chu Bản Chiềng, Izox, 1965) tuồi Kreta muộn. Granitoit phức hệ Bản Chiềng (khối Bản Chiềng, Phú Lợi) bị biến đổi sau magma mạnh mẽ, chủ yếu là felspat hóa (microlin hóa, albit hóa). Quá trình greizen hóa thể hiện yếu ớt và không đều. Tại Bản Chiềng (Nghệ An) granitoit phức hệ gây biến chất trao đổi với đá vôi vây quanh thành tạo đới skarn giàu magnetit có chứa thiếc, nhưng hàm lương không cao (Nguyễn Văn Để, Huỳnh Trung, 1973). Quặng thiếc gốc biểu hiện rải rác dưới dạng các mạch nhỏ thạch anh – cassiterit – tourmalin. Quặng sa khoáng cassiterit ở thung lũng Bản Chiềng với hàm lượng cao, song quy mô  không lớn.
            Vùng Phú Lợi đã phát hiện nhiều mạch quặng gốc với tổ hợp khoáng vật cassiterit – sulfur và cassiterit – thạch anh. Các khoáng vật sulfur phổ biến là arsenopyrit, pyrit, pyrotin, galenit, sphalerit và ít tourmalin. Hàm lượng thiếc trong các mạch thay đổi 0,5 – 5.4%. Trữ lượng quặng cassiterit sa khoáng của vùng Quỳ Hợp, Bản Chiềng khoảng 36.000 tấn (Lê Thạc Xnh, Phạm Tuấn Thịnh, 1990)
Ø   Vùng Đạ Chais
            Nằm cách Đà Lạt khoảng 30km về phía Đông Bắc. Cấu trúc địa chất của vùng gồm các thành tạo phun trào andezit – daxit và tuf của chúng có tuổi Jura muộn (hệ tầng đèo Bảo Lộc). Xuyên qua chúng là các thành tạo xâm nhập với thành phần là diorit biotit hornblend, granodiorit phức hệ Định Quán. Ngoài ra còn gặp các thể nhỏ granit biotit, granit porphyr (tướng tiếp xúc trong) có tuổi Kreta muộn. Tại vùng gặp nhiều mạch nhỏ thạch anh – tourmalin xuyên cắt các đá phun trào. Mạch thạch anh cassiterit tourmalin (có sulfur ?) xuyên cắt trong đá phiến (bị phong hóa mạnh). Cassiterit tập trung thành đám, ổ phân bố rải rác trong mạch. Tổng trữ lượng Sn ước lượng khoảng 40.000 tấn và WO3 khoảng 20.000 tấn với hàm lượng Sn 0,6 – 1,0% (Lê Thạch Xnh, Phạm Tấn Tinh, 1990)
Ø   Vùng Phú Sơn (tây Đức Trọng – Lâm Đồng)
            Tại đây đã phát hiện nhiều tảng lăn thạch anh, cassiterit có tourmalin với nhiều kích thước khác nhau, hàm lượng cassiterit cao. Granitoit liên quan với quặng hóa thiếc thuộc phức hệ Ankroet. Chúng bị biến đổi sau magma mạnh mẽ: felspat hóa, greizen hóa có topaz và tourmalin (Huỳnh Trung, Nguyễn Tường Tri, 1995, Nguyễn Quang Lộc, 1996). Ngoài ra còn gặp nhiều tinh thể thạch anh (có khi rất lớn) màu trắng trong có giá trị sử dụng chế tác đồ trang sức và trong công nghiệp trong các đá apogranit của vùng.
            Cũng tương tự như ở Phú Sơn, tại Lạc Lâm (Lộc Thắng, Bảo Lộc) đã gặp các mạch thạch anh – cassiterit có tourmalin xuyên trong đới greizen hóa của granitoit được xếp vào phức hệ Ankroet (Nguyễn Tiến Túy, 1994). Thành phần khoáng vật của mạch quặng ngoài cassiterit còn có thạch anh, tourmalin, sulfur, (wolframit).
Ø   Vùng Nam Đông Nam, Di Linh (Sơn Điền, Sa Võ, Daketrou (Datanky))
            Đã phát hiện các mạch thạch anh cassiterit có tourmalin, thạch anh sulfur – cassiterit xuyên qua apogranit được xếp vào phức hệ Ankroet (khối Daketrou). Granitoit bị biến đổi felspat hóa, greizen hóa (Dương Văn Cầu, Hoàng Phương, Vũ Như Hùng, 1998).
Ø   Vùng Thái Phiên (Hòn Bồ), Đa Thiện, Đà Lạt
            Đã phát hiện quặng hóa thiếc dưới dạng các mạch thạch anh, cassiterit, tourmalin, sulfur xuyên qua các thành tạo trầm tích biến chất hệ tầng La Ngà (Nguyễn Văn Cường, 1993). Trong các mạch greizen (thạch anh muscovit) đôi khi bắt gặp các tia mạch nhỏ cassiterit, tourmalin xuyên cắt (Huỳnh Trung, Lê Đức Phúc, 1999) hoặc những hạt nhỏ cassiterit cấu tạo đới trạng và có màu nâu đỏ (dưới 1 nicol) của cassiterit phân bố rải rác trong greizen có tourmalin và topaz. Liên quan với quặng hóa cassiterit của vùng là apogranit khối Đà Lạt thuộc phức hệ Ankroet. Granitoit bị biến đổi sau magma rất mạnh mẽ: microlin hóa, albit hóa vào giai đoạn kiềm sớm, greizen hóa có topaz, tourmalin giai đoạn rửa lũa axit, và ở mức độ thấp hơn là albit hóa, microlin hóa giai đoạn kiềm muộn. Giai đoạn lắng đọng được đặc trưng bởi các thành tạo quặng hóa cassiterit dưới dạng mạch thạch anh cassiterit tourmalin có sulfur (arsenopyrit, pyrit có bismutin ?) (Huỳnh Trung, Lê Đức Phúc, 1998).
Ø  Vùng núi Chứa Chan (Đồng Nai)
            Các nhà địa chất đo vẽ BĐĐC tỷ lệ 1/50000 (nguyễn Văn Cường, Đào Văn Đình, 1999) đã phát hiện các mạch greizen (thạch anh, muscovit, disten) có cassiterit và sulfur. Các mạch greizen có disten chứa cassiterit xuyên trong granitoit khối Chứa Chan (phức hệ Ankroet) theo phương Bắc Tây Bắc. Như vậy có thể các mạch thạch anh – cassiterit – sulfur không thấy trong các xâm nhập granitoit của khối. Có lẽ chúng đã bị bóc mòn khi các thành tạo quặng hóa này phân bố trong các đá trầm tích biến chất vây quanh (như vùng Thái Phiên, Hòn Bồ, Đà Lạt) thuộc phần mái của khối xâm nhập. Cũng như granitoit khối Ankroet – Đà Lạt, granitoit khối Chứa Chan, Núi Le đều bị biến chất trao đổi sau magma mạnh mẽ, trong đó ở giai đoạn microlin hóa, albit hóa (giai đoạn kiềm sớm) thành tạo albit bàn cờ rất đặc trưng. Ở đây giai đoạn rửa lũa axit (greizen hóa) ở nhiệt độ cao hơn thành tạo khoáng vật disten và muộn hơn phổ biến quá trình muscovit hóa (muscovit thay thế khoáng vật disten).

2.3. Sa khoáng

Ở nước ta loại sa khoáng cassiterit có ý nghĩa công nghiệp quan trọng phân bố ở Tĩnh Túc, Sơn Dương, tây Nghệ An.Chúng là sản phẩm phá hủy các đá gốc trong khu vực.
Trong số nhiều điểm sa khoáng đã được thăm dò, khai thác cho đến nay đã phát hiện được 194 điểm thiếc sa khoáng. Chúng là đối tượng khai thác chính, trong số đó có nhiều điểm đã bị khai thác cạn kiệt như Tĩnh Túc (Cao Bằng), Phục Linh, Khuôn Thi, Làng Cá, Kỳ Lâm, Ngòi Chò, Ngòi Trí Trầm (Sơn Dương, Đại Từ), và các sa khoáng nhỏ khác. Sa khoáng thiếc có nguồn gốc chủ yếu là aluvi và deluvi.
Sa khoáng aluvi phân phố rộng rãi ở các vùng Cao Bằng, Sơn Dương – Đại Từ và Quỳ Hợp. Các thung lũng chứa sa khoáng thường có dạng phức tạp, phần lớn là thung lũng karst (ngoại trừ vùng Đơn Dương), có bề dày lớp cát chứa quặng thay đổi phức tạp             đến 40 m.
Hầu hết các tụ khoáng sa khoáng có điều kiện khai thác thuận lợi. Tuy nhiên một số tụ khoáng như Bản Poòng, Bản Cò (Quỳ Hợp) nằm dưới cánh đồng lúa, nên việc khai thác gặp nhiều khó khăn. Tại một số vùng ở Lâm Đồng và Sơn Dương hiện nay đang khai thác quặng thiếc trong sa khoáng eluvi, deluvi và trong vỏ phong hóa các tầng đá núi lửa, đá phiến hoặc granite bị greizen hóa có chứa xâm tán cassiterit.

Sa khoáng thiếc có hàm lượng cassiterit thay đổi từ 200 – 400 g/m3 chủ yếu lớn hơn 273 g/cm3. Trữ lượng và tài nguyên dự báo khoảng 87.000 tấn SnO2.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét